Tranh luận nóng

Căng thẳng Nga-NATO trên Biển Đen: Nối tiếp lịch sử Liên Xô

Thứ Tư, 07/07/2021 07:25

(Hồ sơ) - Không phải chỉ bây giờ phương Tây mới kéo tàu chiến và máy bay đến do thám biên giới Nga, mà điều này đã diễn ra từ thời Liên Xô.

Tình hình Biển Đen nóng lên vì NATO

Thời gian qua, những sự kiện nóng bỏng đã diễn ra trên Biển Đen khi các chiến hạm NATO liên tiếp bị Điện Kremlin cáo buộc xâm phạm lãnh hải Nga và Moscow phải đưa ra những hành động đối phó cứng rắn, khiến nguy cơ xung đột gia tăng trên Biển Đen.

Liên tiếp trong hai ngày 23 và 24 tháng 6, các tàu chiến NATO đã thay phiên nhau xâm nhập vào khu vực mà Nga tuyên bố là chủ quyền lãnh hải của Nga ở vùng biển gần mũi Fiolent (cape-Fiolent), phía đông nam bán đảo Crimea trên Biển Đen.

Hậu quả là các tàu biên phòng Nga đã nổ súng, còn máy bay Su-24 Nga đã ném bom vào tuyến hành trình của tàu khu trục Anh HMS Defender để buộc con tàu này phải rời khỏi khu vực này.

Còn các chiến đấu cơ Su-34 và Su-30SM Nga đã bay liên tục nhiều giờ trên đầu tàu hộ tống HNLMS Evertsen của Hà Lan ở độ cao thấp và khoảng cách gần. Thậm chí chúng còn mang theo tên lửa chống hạm và tập mô phỏng các đòn đánh vào con tàu này, cùng với đó là hoạt động tác chiến điện tử khiến tất cả các hệ thống trên tàu bị ngừng hoạt động.

Ngoài các vụ xâm phạm lãnh hải, hàng loạt máy bay trinh sát của Mỹ-NATO liên tiếp áp sát không phận Nga trên Biển Đen khiến không quân Nga phải tung máy bay chiến đấu lên đánh chặn. Tuy nhiên, các hoạt động do thám Nga vẫn tiếp tục diễn ra, giống như “truyền thống” từ thời chiến tranh lạnh.

Cang thang Nga-NATO tren Bien Den: Noi tiep lich su Lien Xo
Mỹ chưa bao giờ ngừng các hoạt động do thám Liên Xô/Nga

Mỹ do thám Nga: Không phải là chuyện mới

Theo truyền thông Nga, các sự kiện máy bay phương Tây áp sát biên giới Nga trong thời gian qua không có gì lạ, bởi ngay từ giữa thế kỷ trước, các vụ vi phạm biên giới quốc gia, các máy bay gián điệp chụp ảnh hàng nghìn km vuông lãnh thổ Liên Xô và các cơ sở quân sự bí mật là điều không còn gì mới.

Cách đây đúng 65 năm, vào đầu tháng 7 năm 1956, Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower đã phê duyệt các chuyến bay do thám của máy bay trinh sát chiến lược Lockheed U-2 "Dragon Lady", trên bầu trời Liên bang Xô viết.

Các điệp viên Mỹ trên không đã cảm thấy vô cùng thoải mái vì không ngại bị trừng phạt cho đến khi chiếc máy bay của phi công Francis Powers bị bắn rơi gần Sverdlovsk.

Ngày nay, lịch sử có xu hướng lặp lại. Sau khi bán đảo Crimea sáp nhập vào Nga, các máy bay và tàu trinh sát của NATO liên tục tăng cường hoạt động gần biên giới Nga.

Trong những năm 1950, Washington đã không tiếc công sức và nguồn lực để thu thập thông tin về những bí mật quân sự của Moscow, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển vũ khí hạt nhân, tìm hiểu về việc thử nghiệm các loại vũ khí mới, xác định vị trí của các cơ sở chiến lược quan trọng.

Hoạt động này gặp những khó khăn bởi vì nhiều cơ sở nằm ở vị trí xa trung tâm trên lãnh thổ rộng lớn của Liên Xô. Mỹ cần có loại phi cơ bay ở độ cao lớn và nằm ngoài tầm bắn của lực lượng phòng không của đối phương. Một loại máy bay như vậy đã xuất hiện vào năm 1955.

Cang thang Nga-NATO tren Bien Den: Noi tiep lich su Lien Xo
Máy bay trinh sát U2 của Mỹ đã từng hàng chục lần do thám lãnh thổ Liên Xô

Hai mươi bốn chuyến bay trinh sát của U2

Máy bay trinh sát cận âm độ cao lớn U-2 nặng chỉ 10 tấn không mang vũ khí tấn công và chỉ được trang bị thiết bị trinh sát. Nó có tốc độ bay chỉ khoảng 750 km/giờ, tầm bay xa 4,5 nghìn km, nhưng điều quan trọng nhất là U-2 có thể bay lên độ cao hơn 21 nghìn mét.

Người Mỹ tin rằng, trên độ cao đó, cả máy bay chiến đấu cũng như tên lửa có sẵn trong quân đội Liên Xô không thể đánh chặn chiếc máy bay.

Lầu Năm Góc đã thành lập một đơn vị Không quân bí mật đặc biệt là “Biệt đội 10-10”. Nó được giám sát bởi CIA. Bộ phận chính của nhóm này đã đóng tại căn cứ không quân Incirlik trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ. Các máy bay trinh sát có thể cất cánh từ đó mà không bị các đài radar phát hiện.

Những chiếc U-2 đã bay qua các thành phố lớn nhất như Kiev, Leningrad, Minsk, Moscow, chụp ảnh các xí nghiệp công nghiệp, nhà máy đóng tàu, nhà máy quốc phòng, cơ sở phòng không, sân bay chiến lược, căn cứ hải quân. Trong 4 năm, thiết bị vô tuyến điện phòng không của Liên Xô đã phát hiện 24 chuyến bay gián điệp.

Vào tháng 5 năm 1960, Liên Xô đã đánh chặn chiếc U-2 đầu tiên và cuối cùng. Phi công Francis Powers đã xâm phạm bất hợp pháp không phận Liên Xô ở nước Cộng Hòa Tajik và bay đến vùng Urals và một số chiến đấu cơ trực chiến của Liên Xô đã cất cánh.

Khi Powers giảm độ cao trên bầu trời Sverdlovsk, chiếc máy bay bị trúng một tên lửa S-75 Dvina. Phi công Francis Powers đã nhảy dù và bị người dân địa phương bắt giữ. Phi công Mỹ bị kết án 10 năm vì tội gián điệp, nhưng, sau đó Powers được đổi lấy đặc tình bí mật của Liên Xô Rudolf Abel, người đã bị lộ ở Mỹ.

Cang thang Nga-NATO tren Bien Den: Noi tiep lich su Lien Xo
Máy bay trinh sát điện tử RC-135 của Mỹ

Những vệ tinh gián điệp trên vũ trụ

Vụ việc đã thu hút sự chú ý của giới chính trị hai bên. Nikita Khrushchev cáo buộc người Mỹ hành động bội ước và yêu cầu Eisenhower xin lỗi. Tổng thống Mỹ đã bày tỏ sự hối hận chân thành của mình, nhưng mối quan hệ giữa hai quốc gia càng trở nên tồi tệ.

Chương trình do thám bằng U-2 đã bị loại bỏ dần. Hệ thống phòng không của Liên Xô được cải thiện nhanh chóng, các hệ thống đánh chặn mới đã xuất hiện, các máy bay trinh sát đã mất khả năng bất khả xâm phạm. Do đó, người Mỹ chuyển sang dùng vệ tinh.

Năm 1956, CIA và Không quân Hoa Kỳ đã phát triển chương trình Corona theo dõi các mục tiêu mặt đất của Liên Xô và Trung Quốc. Trong những năm 1960, người Mỹ đã phóng hơn 140 phương tiện trinh sát với ống kính góc rộng tiêu cự dài lên quỹ đạo.

Các vệ tinh đã bay ở độ cao khoảng một nghìn km. Đáng chú ý là quả vệ tinh đầu tiên đã thu thập được số lượng thông tin tình báo bằng tất cả các máy bay U-2 gộp lại.

Kể từ giữa những năm 1990, chỉ có các phương tiện trinh sát điện tử hạng nặng Orion được đưa lên quỹ đạo. Tám vệ tinh như vậy hiện đang hoạt động trong không gian, các chi tiết về sứ mệnh của chúng được giữ bí mật.

Tổng cộng, Cục Tình báo Không gian Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ (National Geospatial-Intelligence Agency - NGA) hiện có khoảng 50 phương tiện do thám đang hoạt động.

Cang thang Nga-NATO tren Bien Den: Noi tiep lich su Lien Xo
Bộ đôi máy bay tuần tiễu chống ngầm P-8A Poseidon và P-3C Orion của Mỹ

Những máy bay trinh sát và giám sát

Ngày nay, Hoa Kỳ và NATO không từ bỏ các máy bay do thám. Mặc dù các máy bay trinh sát không còn được sử dụng với quy mô lớn như trước đây, nhưng chúng vẫn thu thập phần lớn dữ liệu về hệ thống phòng thủ của Liên Xô/Nga.

Ví dụ, những "vị khách" thường xuyên nhất ở ngoài khơi Crimea là các máy bay tuần tra hàng hải (tuần tiễu chống ngầm) P-3 Orion đã được đưa vào biên chế vào những năm 1960. Khi đó, nhiệm vụ chính của Orion là săn ngầm, thả các thiết bị sonar và điều phối các hoạt động tìm kiếm cứu nạn. Theo thời gian, Orion đã được điều chỉnh để hoạt động trinh sát.

Orion được trang bị thiết bị radar mạnh, tổ hợp sonar, hệ thống xử lý thông tin. Hơn nữa, máy bay trinh sát có thể mang theo bom và tên lửa, gồm tên lửa chống hạm Harpoon, tên lửa không đối đất có dẫn đường và không dẫn đường, bom nước sâu, bao gồm cả bom hạt nhân.

Máy bay tuần tiễu chống ngầm P-8 Poseidon hiện đại hơn còn được trang bị các thiết bị trinh sát và tìm kiếm, trong khoang bên trong có bom rơi tự do và ngư lôi Mark 54. Ở các giá treo bên ngoài có thể treo tên lửa không đối không Sidewinder và tên lửa chống hạm Harpoon.

Ngoài ra, Mỹ còn có những chiếc máy bay do thám chiến lược RC-135 có khả năng bay nhiều giờ liên tục và vượt qua hơn chín nghìn km mà không cần tiếp nhiên liệu, đã nhiều lần bay gần biên giới Nga.

Các tàu trinh sát điện tử và gián điệp

Lầu Năm Góc và CIA cũng đang tích cực phát triển hệ thống trinh sát biển. Cục Tình báo Hải quân Hoa Kỳ là một trong những cơ quan lâu đời nhất, nó đã được thành lập vào những năm 1880.

Cang thang Nga-NATO tren Bien Den: Noi tiep lich su Lien Xo
Tàu trinh sát USNS Impeccable (T-AGOS-23) của Hải quân Hoa Kỳ

Vào đầu Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã sử dụng rộng rãi không chỉ các tàu chiến mà còn các tàu đánh cá với thiết bị radar và đến những năm 1960, họ đã chế tạo các tàu trinh sát chuyên dụng dựa trên tàu vận tải dân sự.

Các tàu như vậy đã hoạt động trên toàn bộ đại dương thế giới - từ bờ biển Nam Mỹ đến bờ biển Viễn Đông. Chúng đã thu thập thông tin về các cơ sở quân sự khác nhau, xác định tọa độ và hành trình di chuyển của các mục tiêu có thể bị tấn công, đánh chặn các kênh liên lạc vô tuyến giữa quân đội Liên Xô và các đồng minh.

Trong lịch sử các tàu gián điệp có nhiều sự cố. Ví dụ, vào tháng 6 năm 1967, trong thời gian Chiến tranh 6 ngày giữa Israel và liên quân Ả Rập, tàu do thám USS Liberty đang tiến hành trinh sát ở Địa Trung Hải, khu vực biển ngoài khơi bán đảo Sinai. Tưởng rằng tàu do thám USS Liberty là chiến hạm Ai Cập, quân đội Israel liên tục trút bom, nã đạn khiến 34 thủy thủ Mỹ thiệt mạng, 173 người bị thương.

Tháng 1/1968, tàu do thám Mỹ USS Pueblo vi phạm biên giới Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nên đã bị Triều Tiên bắt giữ. Chỉ trong vòng một giờ, một thủy thủ Mỹ thiệt mạng và 82 người khác bị bắt làm tù binh. Tất cả thủy thủ đoàn bị giam trong trại tù binh chiến tranh.

Hiên nay, Hoa Kỳ tiến hành trinh sát chủ yếu bằng các tàu chiến thuộc biên chế. Các tàu khu trục và tuần dương hạm thường xuyên xuất hiện gần lãnh hải của Nga, đặc biệt là bán đảo Crimea.

Kể từ năm 2014 đến nay, vùng Biển Đen là khu vực được các cơ quan tình báo quân sự của các nước NATO đặc biệt chú ý. Các sự kiện gần đây cho thấy rằng, sự chú ý này sẽ không giảm sút, bất kể những phản ứng mạnh mẽ của Nga và nguy cơ xảy ra xung đột quân sự.

Huy Bình