Tranh luận nóng

Năng suất lao động Việt Nam tụt hậu 40 năm với Malaysia

Chủ Nhật, 02/05/2021 07:44

(Thị trường) - Năng suất lao động của Việt Nam có cải thiện nhưng chưa đủ nhanh để có thể thu hẹp khoảng cách với các quốc gia khác.

Tại hội thảo “Nâng cao năng suất lao động ở Việt Nam - Nguồn gốc và thách thức cho tăng trưởng”, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết năng suất lao động năm 2020 của Việt Nam tính theo giá so sánh năm 2010 chỉ tăng 5,4% (so với mức tăng 6,2% năm 2019 và ở mức thấp nhất trong 5 năm gần đây), đạt mức 117,94 triệu đồng/lao động theo giá hiện hành (tương đương 5.081 USD/lao động). Mức tăng này có cao hơn khi so sánh với các quốc gia trong khu vực.

Giai đoạn 2016-2020, năng suất lao động của Việt Nam được cải thiện rõ nét, bình quân tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30-35%).

Sự cải thiện này được cho là xuất phát từ mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô, lao động giá rẻ, mở rộng tín dụng, từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nang suat lao dong Viet Nam tut hau 40 nam voi Malaysia
Năng suất lao động của Việt Nam có cải thiện nhưng vẫn chưa thể đuổi kịp các nước trong khu vực. Ảnh: VOV

Mặc dù có mức tăng trưởng năng suất lao động cao nhưng mức tăng này vẫn chưa đủ nhanh để có thể thu hẹp khoảng cách với các quốc gia khác. Năng suất lao động của Việt Nam năm 2020, theo ước tính của ILO, thấp hơn 7 lần so với Malaysia, 4 lần so với Trung Quốc, 3 lần so với Thái Lan, 2 lần so với Philippines và 26 lần so với Singapore.

Báo cáo 2020 của Tổ chức Năng suất châu Á (APO) cũng cho thấy, năng suất lao động Việt Nam tụt hậu so với Nhật Bản 60 năm, so với Malaysia 40 năm và Thái Lan 10 năm.

Năng suất lao động của Việt Nam thấp và chưa bắt kịp với các nước trong khu vực là tình trạng đã diễn ra nhiều năm. Một thực tế nữa là trong các khu vực kinh tế, năng suất lao động ở khu vực doanh nghiệp nhà nước luôn đạt mức cao nhất, chủ yếu dựa vào ưu thế trong việc phân bổ nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài nguyên thiên nhiên. Tiếp đó là đến khu vực doanh nghiệp FDI và cuối cùng là tư nhân.

Nguyên nhân là do sự khác biệt về lĩnh vực đầu tư, khu vực FDI tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, khai khoáng và những ngành có năng suất lao động cao; trong khi khu vực nội địa lao động vẫn chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp, ngành có có năng suất lao động tuyệt đối rất thấp. Điều này dẫn tới năng suất lao động bình quân của khu vực FDI cao.

Tuy nhiên, như chuyên gia kinh tế Bùi Trinh từng nhận xét, đối với các doanh nghiệp FDI tuy có cải thiện năng suất lao động nhưng tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu nội địa làm đầu vào lại thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực.

Mặc dù xuất siêu mạnh nhưng xuất bao nhiêu lại chuyển về nước bấy nhiêu. Nói là FDI đóng góp cho tăng trưởng GDP của Việt Nam nhưng thực chất lại làm lợi cho nước ngoài.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Đức Thành thì cho rằng, đối với khu vực doanh nghiệp gồm doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và FDI, cần hướng cải thiện năng suất lao động ở khu vực kinh tế tư nhân. Nếu cải thiện được năng suất lao động tại khu vực này sẽ tạo nên sự đột phá cho nền kinh tế của Việt Nam. Việc phụ thuộc tăng năng suất vào FDI sẽ là thiếu bền vững khi có khủng hoảng.

Cùng với đó, cải thiện năng suất lao động khu vực hộ gia đình, bắt nguồn từ thay đổi cách sinh hoạt và tư duy người dân. Chỉ có cách đó mới có thể thay đổi thực chất năng suất lao động.

MT